Blogger Widgets

Cà phê tăng giá: Chưa vội mừng

Thị trường cà phê thế giới tăng giá kéo dài khiến giá cà phê trong nước cũng lên cao nhất tính từ tháng 5/2013 đến nay. Sản lượng cà phê được dự báo giảm do tác động của thời tiết là nguyên nhân chính khiến giá nông sản tăng vọt.

Tại một số sàn giao dịch cà phêLondon, New York, giá cà phê Robusta và Arabica giao ngay trong tháng 3 và giao dịch kỳ hạn đều tăng. Ở Việt Nam, giá cà phê tại nhà máy ở Tây Nguyên và các tỉnh phía nam là 41.300- 42.000 đồng/kg, tăng từ 300-700 đồng/kg, cao nhất trong 10 tháng trở lại đây. Nhận định của trang thông tin Giacaphe.com cho thấy lượng hàng giao dịch tại thị trường nội địa đã tăng lên đáng kể.
ca phe robusta viet nam
Mặc dù giá tăng nhưng thực tế xuất khẩu cà phê Việt Nam 2 tháng đầu năm giảm mạnh về lượng so với năm trước
Mặc dù giá tăng nhưng thực tế xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong 2 tháng đầu năm (chủ yếu là cà phê Robusta) lại giảm mạnh về lượng so với cùng kỳ, giá bán cũng không cao. Số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công bố cho thấy, tháng 1 xuất khẩu cà phê ước đạt 135.600 tấn, giảm gần 40%; tháng 2 ước đạt 136 nghìn tấn với giá trị kim ngạch đạt 254 triệu USD, giảm 4,92% về lượng và giảm 4,28 % về giá trị so với tháng trước. Lũy kế xuất khẩu cà phê 2 tháng đầu năm ước đạt 279 nghìn tấn và 519 triệu USD, giảm 13,7 % về khối lượng và giảm 23,4 % về giá trị so với năm 2013. Tính bình quân giá cà phê xuất khẩu của Việt Nam từ đầu năm tới nay vẫn giảm nhẹ khoảng 7-8% so với cùng kỳ.
Hiện tượng cà phê rớt giá thê thảm trong năm 2013 đã khiến người nông dân đẩy mạnh việc bán ra khi giá đang ở mức cao như hiện nay. Tuy nhiên, ông Đỗ Hà Nam – Phó Chủ tịch Hiệp hội Cà phê- Ca cao Việt Nam (Vicofa) – khuyến cáo: Với diễn biến thị trường đang tăng cao như hiện nay, việc “chốt lời” của nông dân là khá đúng thời điểm, nhưng cũng không nên bán ồ ạt làm cho thị trường hỗn loạn.

Lo ngại cho niên vụ mới

Ông Đỗ Hà Nam:
Vicofa sẽ kiến nghị với Chính phủ có các chính sách hỗ trợ cho người nông dân về lãi suất khi vay vốn trồng và trữ cà phê. Trước mắt, Vicofa sẽ kêu gọi các DN hạ giá thuê kho giữ cà phê cho người nông dân.
Theo nhận định của Vicofa, những đợt rét lạnh kéo dài vừa qua đã khiến diện tích cà phê ở các tỉnh Sơn La, Đăk Lăk, Lâm Đồng, Gia Lai và Kon Tum bị ảnh hưởng đáng kể. Toàn tỉnh Sơn La có hơn 640 ha cà phê bị cháy lá, buộc phải chặt bỏ một phần thân cây hoặc trồng lại từ đầu; tại một số tỉnh Tây Nguyên, bệnh “cúm cà phê” đã khiến cây rụng lá, hoa không nở hết và gió to đã làm hoa, lá trút đầy gốc. Bên cạnh đó, tình trạng thiếu nước đang diễn ra khá trầm trọng, tại Tây Nguyên hiện chỉ đủ lượng nước tưới cho 60% diện tích trồng cà phê, còn 40% diện tích đang phải chịu nguy cơ thiếu nước. Vicofa dự báo ảnh hưởng của thời tiết sẽ khiến sản lượng cà phê Việt Nam niên vụ 2014/2015 giảm khoảng 10-15% so với niên vụ trước, nhất là với cà phê Robusta.
Mặc dù giá cà phê đã tăng những ngày gần đây, nhiều doanh nghiệp vẫn khá dè dặt khi dự báo về giá và sức tiêu thụ của thị trường trong thời gian tới. Chủ tịch Vicofa – ông Lương Văn Tự – cho rằng: Giá cà phê năm 2014 sẽ ít có cơ hội đi lên, ngành cà phê đang trong giai đoạn rất khó khăn khi xuất khẩu sụt giảm và nhiều DN thua lỗ. Ngoài ra, diện tích cà phê cần tái canh rất lớn trong khi doanh nghiệp lại khó tiếp cận vốn. Vicofa đề xuất Chính phủ nên bổ sung cà phê thuộc đối tượng được giãn nợ 36 tháng như đối với một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực khác và cho phép các doanh nghiệp trong lĩnh vực này được xem xét khoanh nợ xấu, có cơ hội tiếp cận nguồn vốn mới để duy trì sản xuất – kinh doanh.

Nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp cà phê

Theo Bộ Tài chính đã có nhiều ưu đãi về thuế, thuê đất, sử dụng đất và gia hạn vay tín dụng xuất khẩu cho mặt hàng cà phê.

Mới đây, trong kiến nghị gửi đến Ban Dân nguyện- Ủy ban Thường vụ Quốc hội, cử tri tỉnh Đắk Lắk đề nghị Nhà nước cần có chính sách ưu đãi, hỗ trợ các DN kinh doanh cà phê trong nước để giảm bớt khó khăn cũng như giúp các DN có điều kiện tồn tại trước sự cạnh tranh không cân sức với các DN nước ngoài có nguồn lực về vốn và kinh nghiệm.

Nhiều ưu đãi về thuế, cho thuê đất

Vấn đề thuộc phạm vi quản lý của mình, Bộ Tài chính cho biết, để tháo gỡ khó khăn về tài chính cho các DN kinh doanh cà phê, thời gian qua Bộ Tài chính đã có những chính sách ưu đãi, hỗ trợ các DN kinh doanh cà phê.
Về chính sách thuế GTGT, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ bổ sung dự thảo Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế GTGT. Cụ thể: Sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường bán cho cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khấu trừ trong khâu kinh doanh thương mại không phải chịu thuế GTGT.
doanh nghiep kinh doanh ca phe
Theo Bộ Tài chính đã có nhiều ưu đãi về thuế, thuê đất, sử dụng đất và gia hạn vay tín dụng XK cho mặt hàng cà phê.
Với quy định trên, nếu cơ sở kinh doanh thương mại nộp thuế theo phương pháp khấu trừ bán nông sản, lâm sản, thủy sản chưa qua chế biến thành sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường cho cơ sở kinh doanh khác nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thì không phải xuất hóa đơn có thuế GTGT; còn bán cho hộ, cá nhân hoặc tổ chức khác là người nộp thuế theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT hoặc không phải là đối tượng nộp thuế thì vẫn phải tính thuế GTGT.
Về chính sách tiền thuê đất, Bộ Tài chính cho biết, đối với đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp (trong đó có đất trồng cây cà phê) được Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm hoặc giao đất có thu tiền sử dụng đất. Quy định về nộp tiền thuê đất, chính sách ưu đãi về miễn tiền thuê đất với mức ưu đãi (miễn 3 năm, 7 năm, 11 năm, 15 năm, hoặc cả thời gian thuê đất tùy thuộc dự án thuộc lĩnh vực ưu đãi đầu tư (khuyến khích đầu tư, đặc biệt khuyến khích đầu tư) được đầu tư tại địa bàn ưu đãi đầu tư (địa bàn kinh tế – xã hội khó khăn, địa bàn kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn) theo quy định tại chính sách thu tiền thuê đất (Nghị định số 142/2005/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 121/2010/NĐ-CP của Chính phủ).
Về quy định về nộp tiền sử dụng đất, chính sách ưu đãi tiền sử dụng đất với mức ưu đãi (giảm 20%, giảm 30%, giảm 50%), miễn tiền sử dụng đất tùy thuộc dự án thuộc lĩnh vực ưu đãi đầu tư (khuyến khích đầu tư, đặc biệt khuyến khích đầu tư) được đầu tư tại địa bàn ưu đãi đầu tư (địa bàn kinh tế – xã hội khó khăn, địa bàn kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn) thực hiện theo quy định tại chính sách thu tiền sử dụng đất (Nghị định số 198/2004/NĐ-CP, Nghị định số 44/2008/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 120/2010/NĐ-CP của Chính phủ).
Ngoài ra, Nghị định số 210/2013/NĐ-CP ngày 19-12-2013 của Chính phủ quy định chính sách khuyến khích DN đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn quy định ưu đãi miễn, giảm tiền sử dụng đất; miễn, giảm tiền thuê đất tùy theo Dự án thuộc loại dự án nông nghiệp đặc biệt ưu đãi đầu tư, dự án nông nghiệp ưu đãi đầu tư, dự án nông nghiệp khuyến khích đầu tư; đồng thời dự án nông nghiệp nếu đáp ứng 1 trong 3 loại dự án nêu trên thì được hưởng chính sách ưu đãi về mức giá thuê đất thấp nhất theo khung giá thuê đất do UBND cấp tỉnh quy định.

Khoanh nợ cho các DN

Về tạm trữ cà phê, Bộ Tài chính đã có công văn số 12545/BTC -TCDN ngày 19-9-2013 đề nghị Văn phòng Chính phủ trình Thủ tướng Chính phủ cho tạm trữ khi giá cà phê thị trường xuống dưới giá thành và giao cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Hiệp hội Cà phê quyết định lượng mua, phương thức mua tạm trữ theo nguyên tắc: DN thu mua cà phê để tạm trữ và chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh. Vốn mua cà phê tạm trữ được các ngân hàng thương mại đảm bảo cho vay với lãi suất phù hợp được Ngân hàng nhà nước Việt Nam hướng dẫn. Ngân sách nhà nước không hỗ trợ kinh phí tạm trữ.
Để khoanh nợ cho các DN kinh doanh cà phê, Chính phủ cũng đã có nhiều quy định cụ thể. Theo đó, gia hạn thời gian vay tín dụng xuất khẩu đối với mặt hàng cà phê theo Nghị quyết số 83/NQ-CP của Chính phủ, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 133/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số Nghị định trước đó về tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu của Nhà nước.
Trong đó quy định cụ thể như sau: “Gia hạn thời gian vay vốn lên tối đa là 36 tháng (tổng thời gian vay vốn tối đa 36 tháng) đối với khoản vay vốn tín dụng xuất khẩu của Nhà nước cho các nhóm hàng xuất khẩu cà phê, hạt điều đã qua chế biến, rau quả, thủy sản với điều kiện DN lỗ trong năm 2011 và năm 2012; không cân đối được nguồn vốn để trả nợ theo đúng hợp đồng tín dụng đã ký với Ngân hàng Phát triển Việt Nam”.
Như vậy, trong thời gian qua, đã có nhiều chính sách nhằm hỗ trợ các DN kinh doanh mặt hàng cà phê, tạo điều kiện cho các DN đứng vững trên thị trường với sản phẩm được coi là thế mạnh của Việt Nam hiện nay.

Sử dụng nhãn hiệu chứng nhận “Cà phê Arabica Lang Biang”

IMG_1226Liang biang UBND tỉnh Lâm Đồng đã ra quyết định về việc ban hành quy chế quản lý và sử dụng nhãn hiệu chứng nhận “Cà phê Arabica Lang Biang”.

Đây là nhãn hiệu cà phê thứ 2 của Lâm Đồng sau nhãn hiệu “Cà phê Di Linh”.
Theo đó, quy chế này nhằm tập hợp các tổ chức, cá nhân trên địa bàn huyện Lạc Dương (Lang Biang là tên một ngọn núi thuộc địa bàn huyện Lạc Dương) – địa phương có vùng nguyên liệu cà phê arabica nổi tiếng cùng xây dựng, sử dụng nhãn hiệu chứng nhận “Cà phê Arbica Lang Biang” thành một nhãn hiệu có uy tín của cộng đồng những người trồng, sản xuất, chế biến, kinh doanh cà phê của địa phương.
Quy chế quy định rõ: UBND tỉnh Lâm Đồng là chủ sở hữu nhãn hiệu chứng nhận “Cà phê Arabica Lang Biang” và ủy quyền cho UBND huyện Lạc Dương được thực hiện các nhiệm vụ sau: Đăng ký xác lập quyền sở hữu đối với nhãn hiệu chứng nhận “Cà phê Arabica Lang Biang”; quản lý, kiểm soát việc sử dụng và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng nhãn hiệu chứng nhận “Cà phê Arabica Lang Biang” theo các quy định…”

Xuất khẩu cà phê: Nâng “chất” nhờ chế biến?

Là một trong những quốc gia đứng “top” đầu về sản xuất, xuất khẩu cà phê nhưng có tới 95% sản phẩm XK của Việt Nam là cà phê nhân, tỉ lệ rất nhỏ còn lại là cà phê đã qua chế biến. Thực tế này dẫn tới lợi nhuận thu về chưa tương xứng với lượng hàng xuất đi.

>> Để tăng giá trị xuất khẩu cà phê Việt Nam

Xuất nhiều, lợi ít

Việt Nam là quốc gia đứng đầu thế giới về sản xuất và xuất khẩu cà phê vối (robusta) và đứng thứ hai thế giới về sản xuất và xuất khẩu cà phê nhân (chỉ sau Brazil). Có thể khẳng định, trong hơn một thập niên qua, sản xuất cà phê của Việt Nam đã đạt mức tăng trưởng cao cả về diện tích, năng suất cũng như sản lượng. Bằng chứng là năm 2012, sản lượng cà phê nhân của Việt Nam đã đạt 1,3 triệu tấn, gấp 14 lần so với năm 1990, kim ngạch XK cũng chạm mức 2,7 tỷ USD, gấp hơn 29 lần so với năm 1990.
xuat khau ca phe cua Viet Nam
Dự báo, kim ngạch XK cà phê đến năm 2020 đạt ổn định 3,5 tỷ USD/năm
Tuy nhiên, dễ dàng nhận thấy, ngành sản xuất, xuất khẩu cà phê Việt Nam đang tồn tại nghịch lý lớn là cho đến nay, Việt Nam chủ yếu là cà phê nhân với tỷ lệ lên tới 95% tổng sản lượng, trong khi xuất khẩu cà phê đã qua chế biến chỉ chiếm 5%. Đáng lưu ý là giá trị một đơn vị cà phê qua chế biến cao hơn cà phê nhân tới 3 lần.
Ông Nguyễn Trọng Thừa, Cục trưởng Cục Chế biến nông lâm thủy sản và nghề muối (Bộ NN&PTNT) cho biết, kết quả này một phần là bởi hiện nay ngành cà phê Việt Nam có hệ thống chế biến, bảo quản tăng mạnh về số lượng nhưng còn yếu kém, phát triển chưa cân đối. Tổng công suất thực tế chế biến cà phê nhân, cà phê bột và kho bảo quản đạt thấp so với công suất thiết kế gây lãng phí lớn vốn đầu tư. Thậm chí, trong năm 2011, 2012 đã có một số DN phải tạm dừng hoạt động và có nguy cơ phá sản.
“Điểm yếu lớn trong ngành cà phê còn là các khâu sản xuất, chế biến, bảo quản sản phẩm cà phê chưa gắn kết với nhau, liên kết giữa nhà nông và nhà DN còn lỏng lẻo. Các DN chế biến XK chủ yếu hoạt động thương mại thuần túy, ít gắn với sản xuất cà phê. Phần lớn sản lượng cà phê bột được chế biến ở các cơ sở nhỏ, chất lượng không cao nên khó mở rộng thị trường tiêu thụ”, ông Nguyễn Trọng Thừa nói.

Nâng “chất” cho cà phê xuất khẩu

Theo Tổ chức Cà phê Quốc tế (ICO), tiêu thụ cà phê toàn cầu đã tăng liên tục trong vòng 40 năm qua với tốc độ tăng bình quân 1,6%/năm. Tiêu thụ cà phê toàn cầu sẽ tiếp tục tăng và mức tăng cao hơn so với sản xuất nên giá cà phê sẽ được duy trì ở mức trên 2.000 USD/tấn.
Hiện nay, Bộ NN&PTNT đã giao cho Cục Chế biến nông lâm thủy sản và nghề muối xây dựng, hoàn thiện Dự thảo “Quy hoạch hệ thống chế biến, bảo quản cà phê gắn với sản xuất và XK đến năm 2020, định hướng 2030”. Trong dự thảo, các chuyên gia trong ngành đưa ra nhận định giai đoạn từ nay tới năm 2020, định hướng xuất khẩu cà phê nhân Việt Nam là tiếp tục duy trì và giữ ổn định thị trường cà phê Việt Nam đã XK đến 80 quốc gia, đặc biệt là 10 nước NK nhiều cà phê nhân là: Hoa Kỳ, Đức, Bỉ, Italia, Tây Ban Nha, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hà Lan, Anh và Trung Quốc. Tuy nhiên, vấn đề nổi cộm nhất trong xuất khẩu cà phê nhân chính là chất lượng phải được cải thiện và thực hiện đúng theo chương trình nâng cao chất lượng cà phê của ICO. Đồng thời, để XK đạt kết quả phải có DN đủ mạnh (nhóm 20 DN xuất khẩu cà phê – G20) được điều hành bởi đội ngũ các doanh nhân giàu kinh nghiệm và hiểu biết về hệ thống giao dịch cà phê trên thị trường thế giới.
Đối với cà phê tiêu dùng, tiềm năng XK sẽ mở ra đối với các DN Việt Nam nếu sản phẩm cà phê được chế biến bởi dây chuyền thiết bị công nghệ hiện đại, đạt tiêu chuẩn chất lượng cao và có chiến lược mở rộng thị trường khoa học mang tính khả thi cao.
Theo ông Nguyễn Trọng Thừa, trong dự thảo, Cục Chế biến nông lâm thủy sản và nghề muối cũng đã chỉ ra những giải pháp “căn cơ” để từng bước tăng giá trị xuất khẩu cà phê Việt Nam. Đó là sẽ xây dựng vùng sản xuất cà phê chất lượng cao và có chứng nhận làm nguyên liệu phục vụ cho chế biến. Cách tốt nhất là từng DN chế biến, bảo quản cà phê phải kết hợp với địa phương tìm vùng sản xuất cà phê nguyên liệu ổn định và lâu dài, từ đó đầu tư và ký hợp đồng thu mua sản phẩm. Sản phẩm cà phê nhân hoặc sau này chế biến thành cà phê tiêu dùng có thể dễ dàng truy nguyên nguồn gốc.
Bên cạnh đó, ngành cà phê cần tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường, đồng thời nhanh chóng cải thiện phương thức mua bán cà phê nhân qua sàn giao dịch với giá có lợi cho DN Việt Nam.
Ngoài ra, các chủ DN đã đầu tư các nhà máy chế biến cà phê nhân phải đánh giá lại dây chuyền thiết bị công nghệ, xây dựng phương án sản xuất kinh doanh trên cơ sở chuẩn bị được vốn thu mua cà phê nhân và hợp tác liên kết tiêu thụ cà phê nhân XK một cách hợp lý. Những nhà máy, kho bảo quản không hiệu quả thì xem xét chuyển đổi công năng hoặc thực hiện hợp đồng bảo quản cà phê cho các DN khác nhằm nâng cao hiệu suất sử dụng kho nhằm tránh lãng phí vốn đầu tư…
Theo Dự thảo “Quy hoạch hệ thống chế biến, bảo quản cà phê gắn với sản xuất và XK đến năm 2020, định hướng 2030”: Dự báo, kim ngạch xuất khẩu cà phê đến năm 2020 đạt ổn định 3,5 tỷ USD/năm, định hướng đến 2030 đạt 4 – 4,5 tỷ USD/năm. 100% sản phẩm cà phê qua chế biến đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn chất lượng quốc gia, quốc tế về đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Tỷ lệ cà phê nhân được chế biến ở quy mô công nghiệp đạt 40% vào năm 2015; đạt 70% đến năm 2020 và trên 80% đến năm 2030. Đến năm 2020, tỷ lệ cà phê tiêu dùng (cà phê chế biến sâu: cà phê rang xay, cà phê hoà tan) đạt 25% tổng sản lượng cà phê nhân.
Về việc phân bố các cơ sở chế biến bảo quản cà phê theo vùng kinh tế, dự kiến đến năm 2020 sẽ tập trung phát triển chế biến cà phê hòa tan ở các vùng chính gồm: Tây Nguyên, Đông Nam bộ và ĐBSCL, tổng công suất thiết kế đến năm 2020: 55.000 tấn sản phẩm/năm. Khuyến khích các DN sản xuất phối trộn cà phê 3 trong 1 vì vấn đề đầu tư dây chuyền thiết bị tương đối thấp, nhu cầu thị trường lớn.

Cà phê Buôn Ma Thuột đăng ký bảo hộ chỉ dẫn địa lý ở EU

Tỉnh Đắk Lắk đang xây dựng hồ sơ để đăng ký bảo hộ chỉ dẫn địa lý cà phê Buôn Ma Thuột tại Liên minh châu Âu.

>> Chuyên đề: DN Trung Quốc chiếm thương hiệu cà phê Buôn Ma Thuột

Được sự ủy quyền của UBND tỉnh Đắk Lắk, Hiệp hội cà phê Buôn Ma Thuột đang hoàn thiện hồ sơ để đăng ký bảo hộ nhãn hiệu chỉ dẫn địa lý cà phê Buôn Ma Thuột tại Liên minh châu Âu.
cà phê buôn ma thuột
Cà phê Buôn Ma Thuột đăng ký bảo hộ chỉ dẫn địa lý tại EU
Trước đó, cùng với thành công trong việc yêu cầu phía Trung Quốc hủy bỏ nhãn hiệu cà phê Buôn Ma Thuột mà một doanh nghiệp đăng ký độc quyền tại nước này, Hiệp hội cà phê Buôn Ma Thuột đã nộp hồ sơ đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tập thể tại 17 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Hiện nay, với sự giúp đỡ của Dự án hỗ trợ chính sách Đầu tư và Thương mại châu Âu, tỉnh Đắk Lắk đang xây dựng hồ sơ để đăng ký bảo hộ chỉ dẫn địa lý cà phê Buôn Ma Thuột tại Liên minh châu Âu.
Ông Trịnh Đức Minh, Phó Chủ tịch Hiệp hội cà phê Buôn Ma Thuột, cho biết, thời gian qua, các chuyên gia của Liên minh châu Âu thông qua Cục sở hữu trí tuệ Việt Nam đã tổ chức những cuộc hội thảo, tập huấn để giúp tỉnh Đắk Lắk đăng ký chỉ dẫn địa lý cà phê Buôn Ma Thuột. Quá trình này thông thường mất khoảng 4-5 năm, tuy nhiên với sự giúp đỡ của Liên minh châu Âu thì có thể quá trình đăng ký chỉ dẫn địa lý cà phê Buôn Ma Thuột sẽ rút ngắn xuống còn khoảng 3 năm.
Hiệp hội phải hoàn thiện đầy đủ hồ sơ chứng minh truyền thống lịch sử trồng cà phê lâu đời; thứ hai là phải chứng minh được sự gắn liền giữa điều kiện tự nhiên của Buôn Ma Thuột với chất lượng của cà phê Buôn Ma Thuột; thứ ba là phải làm rõ hệ thống quản lý để làm sao truy xuất nguồn gốc hàng hóa, đảm bảo rằng cà phê tại chính nguồn gốc đó với chất lượng đó.
Hiện, cà phê của tỉnh Đắk Lắk đã được xuất khẩu tới 60 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới. Theo ông Trịnh Đức Minh, các sản phẩm cà phê bền vững có chứng nhận xuất xứ đang được bán cao hơn giá thông thường khoảng 15%. Việc đăng ký bảo hộ chỉ dẫn địa lý cà phê Buôn Ma Thuột là một cách để khai thác thị trường hàng hóa cấp cao, nâng cao giá trị xuất khẩu của mặt hàng này.

Nỗi lo cất trữ cà phê

Khảo sát của Chi cục Phát triển nông thôn Lâm Đồng cho biết, hiện có trên 80% sản lượng cà phê trước khi bán ra thị trường chế biến được nông dân trên địa bàn tự thu hái, bảo quản, cất trữ với các kỹ thuật còn hạn chế, chưa đạt chất lượng ở mức cao.
images876194_Trang7.1
Thống kê tỉnh Lâm Đồng hiện có gần 140 ngàn ha cà phê kinh doanh, đạt sản lượng gần 348 ngàn tấn nhân/năm. Mùa vụ thu hoạch cà phê thường bắt đầu vào tháng 10 và kéo dài khoảng 4 tháng, phần lớn được tuốt hái bằng tay, gồm 2-3 đợt, mỗi đợt gồm khoảng 60% quả chín (có 10% quả “chín tới”), 35% quả xanh non và 5% quả khô, cá biệt có nhiều nông dân hái quả chín chỉ được khoảng 30%.
Kết quả khảo sát của Chi cục Phát triển nông thôn Lâm Đồng cho thấy: tỷ lệ cà phê xanh non còn quá cao, trong quá trình chế biến đã làm hạt nhân nhỏ lại, da nhăn nheo, tỉ trọng nhẹ; rất khó đánh bóng sạch vỏ lụa; làm giảm 20 -30% sản lượng; cân nặng 1 kg quả cà phê tươi gồm khoảng 900 quả chín, nhưng có tới 1.100 quả xanh non. Phần lớn nông dân lưu giữ, chất đống trong nhà, ngoài sân trước khi phơi từ 6 đến 7 ngày, thậm chí có trên 10 ngày, trong khi yêu cầu kỹ thuật không được quá 24 giờ…
Theo anh Roda Búp, kỹ sư của Chi cục Phát triển nông thôn Lâm Đồng, quy định 1 ha cà phê phải cần tới 100m2 sân phơi. Tuy nhiên, trên toàn vùng cà phê Lâm Đồng còn thiếu trên 50% sân phơi (huyện Đức Trọng thiếu khoảng 40% sân phơi; các huyện Bảo Lâm, Di Linh, Lâm Hà thiếu khoảng 60% sân phơi). Hệ quả có tới 66% số hộ dân phơi cà phê trên sân đất, trong đó có 16,5% số hộ phơi cà phê hoàn toàn trên sân đất; 49,5% số hộ phơi cả trên sân đất, sân xi măng, sân gạch và trên tấm bạt. Chỉ có khoảng 17% số hộ phơi cà phê hoàn toàn trên sân xi măng; tỷ lệ hộ gia đình còn lại buộc phải phơi cà phê trên sân nhà, lề đường, sân bóng, trên các trục lộ, mặt đường giao thông…
Về kỹ thuật phơi, nông dân chỉ cào, đảo cà phê khoảng từ 1-2 lần/ngày lúc vừa thu hoạch tươi; khi cà phê gần khô thì cào, đảo lên 4-5 lần/ngày, điều này ngược lại với yêu cầu kỹ thuật là phải cào, đảo liên tục cà phê còn ẩm, ướt khi phơi trong ngày. “Tình trạng sân phơi hiện nay ở Lâm Đồng như vậy vừa không đảm bảo diện tích và vừa không đảm bảo tiêu chuẩn, dẫn đến chất lượng và giá trị sản phẩm cà phê nhân bị giảm sút từ 3-5%, thậm chí có lúc lên tới 10%…” – kỹ sư Roda Búp nói.
Đáng nói thêm, hiện có khoảng 46% số hộ phơi nguyên cả quả cà phê, 40% số hộ vừa phơi nguyên quả và quả đã xát dập và có khoảng 4% số hộ đã xát dập cà phê hoàn toàn trước khi phơi. Đa phần nông dân sử dụng các loại máy xát dập độ chế lắp ráp, nên hạt cà phê bị vỡ dập không đều, chất lượng không cao. Cà phê phơi xong, phần lớn nông dân tận dụng diện tích bảo quản trong nhà, để lẫn lộn với các loại nông sản khác; hoặc tận dụng bảo quản cà phê trong các nhà kho để vật tư phân bón ẩm thấp. Đã vậy, nhiều hộ nông dân còn sử dụng các bao bì đã chứa vật tư phân bón để chứa cà phê bảo quản, khiến cà phê nhân dễ bị lẫn mùi tạp chất khi đưa đi chế biến…
Để khắc phục những nỗi lo nêu trên, Chi cục Phát triển nông thôn Lâm Đồng đã tổ chức 3 lớp tập huấn về bảo quản cà phê thu hoạch theo kỹ thuật mới, thu hút 154 hộ gia đình sản xuất cà phê lâu năm tham gia, qua đó còn giới thiệu với nông dân về việc xây dựng lò sấy cà phê đạt chuẩn quy mô hộ gia đình (hiện mới có từ 0,2-0,3% số hộ đã trang bị khoảng 300 máy máy sấy cà phê). Đây là loại máy sấy với công suất nhỏ (từ 1-3 tấn quả tươi/ngày) với chi phí đầu tư không quá lớn (khoảng 50-80 triệu đồng/máy), có thể sấy bằng điện hoặc bằng chất đốt củi, vỏ cà phê, phấn đấu đạt khoảng 2 ngàn máy vào năm 2015. Đối việc cất trữ cà phê sau thu hoạch, Chi cục đang vận động các tổ chức tập thể, các hộ gia đình sản xuất cà phê quy mô lớn (khoảng 5 ha trở lên), cùng đầu tư xây dựng các kho chuyên dùng, đạt tiêu chuẩn kỹ thuật với khoảng 40.000 m2 kho bảo quản với sức chứa từ 40 -50 ngàn tấn vào năm 2015…
Mục tiêu của Lâm Đồng đến năm 2015 ổn định diện tích cà phê kinh doanh trên dưới 145 ngàn ha, năng suất bình quân đạt 3 tấn nhân/ha. Qua đó có 35% diện tích cà phê được chứng nhận chất lượng theo các tiêu chuẩn quốc tế. Tỷ lệ cà phê xuất khẩu trực tiếp tăng lên 50% sản lượng, đạt kim ngạch xuất khẩu 300 triệu USD/năm. Để đạt những chỉ tiêu này, bên cạnh việc đầu tư thâm canh chiều sâu, hy vọng những giải pháp về việc bảo quản cà phê sau thu hoạch nêu trên sẽ đóng góp bằng những hiệu quả đáng kể nhất.

Cà phê mãi… đắng!

Những người quan tâm tới cây cà phê Việt Nam không khỏi “sởn gai ốc” trước thông tin 7 ngân hàng cùng xiết nợ Công ty Trường Ngân- một doanh nghiệp cà phê lớn ở tỉnh Bình Dương- với số tiền vay cả ngàn tỷ đồng. Rất có khả năng xảy ra nguy cơ một đợt vỡ nợ hàng loạt trong các doanh nghiệp kinh doanh cà phê.
nong-dan-ca-phe_75802
Chưa hết, gần đây, cả Tây Nguyên lại rúng động về nhiều vụ vỡ nợ của các đại lý thu mua cà phê. Trước đó, đầu tháng 4/2013, hai cơ sở thu mua nông sản đã tuyên bố vỡ nợ gần 30 tỷ đồng cho thấy làn sóng vỡ nợ vốn xuất hiện ở Đăk Lăk, Đăk Nông vài năm trước nay bắt đầu quay lại ở Gia Lai.
Nguyên nhân chính dẫn đến “thảm trạng” này là giá cà phê nội địa và xuất khẩu rớt mạnh khiến nhiều doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu cà phê nguy cơ thua lỗ vì trót thu gom cà phê lúc giá cao trước đó, nay sức ép đến hạn trả nợ ngân hàng buộc phải xuất khẩu với giá thấp.
Cũng lạ, từ lâu, Hiệp hội Cà phê – ca cao Việt Nam (Vicofa) đã lên tiếng cảnh báo về sản lượng cà phê Việt Nam niên vụ 2011- 2012 giảm mạnh tới 25% và niên vụ thu hoạch vào tháng 10/2013 giảm tới 30- 35%, song giá cà phê vẫn tuột dốc không phanh. Vì sao vậy?
Thực tế, hầu như năm nào cũng xảy ra chuyện doanh nghiệp cà phê vỡ nợ. Theo thống kê của Vicofa, trong năm 2012 có hơn 100 doanh nghiệp, đại lý, hộ kinh doanh cà phê trên địa bàn Tây Nguyên vỡ nợ hàng nghìn tỷ đồng. Riêng tỉnh Đăk Lăk năm 2012 đã có 43 doanh nghiệp, đại lý kinh doanh cà phê vỡ nợ, mất khả năng thanh toán khoảng 300 tỷ đồng và nợ nông dân 3.000 tấn cà phê nhân ký gửi. Hơn 1.000 nông dân Đăk Lăk trắng tay vì đã ký gửi cà phê cho các đại lý.
Những chuyện “biết rồi, khổ lắm” trong lĩnh vực sản xuất- kinh doanh cà phê sao nói mãi… vẫn thế, không có giải pháp cải thiện tình hình? Nợ đã vỡ, doanh nghiệp, đại lý chịu thiệt hại đã đành, có thể lấy những cái khác bù đắp, nhưng thiệt hại lớn nhất luôn đè lên vai người nông dân vì họ chẳng còn gì ngoài tờ giấy nợ viết tay khi ký gửi cà phê.
Nhìn rộng hơn, cũng như mặt hàng gạo, Việt Nam là nước xuất khẩu cà phê lớn nhất nhì thế giới, vì sao vẫn luôn chịu thế yếu? Phải chăng do cả quản lý lẫn kinh doanh chưa vươn đúng “tầm”, để cà phê Việt mãi… đắng?

Việt Nam xả hàng càphê, giá trên thế giới giảm mạnh

Trong phiên giao dịch ngày 29/5, giá càphê robusta trên thị trường thế giới đã sụt xuống mức thấp nhất trong vòng 5 tháng qua do có những đồn đoán rằng các hộ nông dân ở Việt Nam – nước sản xuất càphê robusta lớn nhất thế giới – đang đẩy mạnh bán ra mặt hàng này.
index
Theo hãng tin Bloomberg, giá càphê robusta giao tháng 11 tại sàn NYSE Liffe tại London (Anh) vào lúc 13 giờ 5 ngày 29/5 (tối 29/5 giờ Việt Nam) giảm 1,1% xuống 1.900 USD/tấn.
Trước đó, giá mặt hàng này đã giảm xuống 1.891 USD/tấn – mức thấp nhất kể từ ngày 21/12/2012.
Trong khi đó, giá càphê arabica giao cùng kỳ hạn tại sàn ICE Futures tại New York (Mỹ) lại tăng 0,9% lên 1,276 USD/pound (1 pound = 0,45kg).
Bloomberg dẫn lời chuyên gia Andrea Thompson của công ty INTL FCStone Inc. có trụ sở tại Bắc Ireland cho biết sản lượng càphê Việt Nam trong niên vụ này sẽ đạt 25,5 triệu bao loại 60kg. Con số này sẽ không thay đổi trong niên vụ 2013/2014.
Do nguồn cung dồi dào nên theo Trung tâm Thương mại và Du lịch Đắc Lắc – vùng trồng càphê chính tại Việt Nam, cho biết trong hai tuần qua, giá càphê tại Việt Nam đã giảm 3,5%.
Trong khi đó, theo dự báo của Volcafe – một đơn vị thuộc tập đoàn ED&F Man Holdings Ltd., sản lượng càphê robusta trên toàn cầu sẽ tăng 2,9% lên 70 triệu bao loại 60 kg trong niên vụ 2013/2014.
Đối với đường trắng (đường tinh luyện), trong phiên giao dịch ngày 29/5, giá mặt hàng này giao tháng 8/2013 tăng 0,3% lên 477,9 USD/tấn trên sàn NYSE Liffe. Giá đường thô giao tháng 7/2013 tăng 0,5% lên 16,81 xu/pound trên sàn ICE.
Giá cacao giao tháng 7/2013 giữ nguyên mức 1.503 bảng (2.271 USD)/tấn tại London. Trong khi đó, giá cacao giao cùng kỳ hạn tăng 0,1% lên 2.207 USD/tấn tại New York.
Theo Bloomberg, khối lượng giao dịch các hợp đồng tương lại tại sàn ICE thấp hơn 23% so với mức trung bình trong 100 ngày qua./.

Chuyển giao 6,9 triệu cây giống cà phê cho nông dân

Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Lâm Nghiệp Tây Nguyên (WASI) và công ty Nestlé Việt Nam, trong khuôn khổ dự án Nescafé Plan, đã chuyển giao gần 6,9 triệu cây giống cà phê cho nông dân các tỉnh Lâm Đồng, Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai trong 3 năm qua.

Với mục tiêu tái canh và trẻ hóa vườn cà phê già cỗi, WASI cũng đã cung ứng trên 16 tấn hạt giống tốt, chất lượng cao để bà con nông dân tự ươm giống và tập huấn, chuyển giao kỹ thuật trồng cà phê theo bộ quy chuẩn quốc tế 4C sản xuất chế biến và kinh doanh cà phê bền vững. cho khoảng 21.000 nông dân.
cay giong ca phe
Nông dân Tây Nguyên nhận chuyển giao cây giống cà phê để tái canhh vườn cà phê già cỗi. Ảnh: Thái Hằng
Theo Ông Lê Ngọc Báu, Viện trưởng WASI, trong những năm gần đây, vấn đề cây cà phê già cỗi ngày càng trở nên nghiêm trọng tại các tỉnh Tây Nguyên vì năng suất cây cà phê già bị sụt giảm tới 50%. Diện tích cà phê già cỗi trên 20 năm tuổi nay đã chiếm hơn 20% trên toàn Tây Nguyên, nâng diện tích phải trồng mới trong 10 năm tới khoảng 140 – 150 nghìn hecta. Trong khi đó, việc trồng lại cây con không hề đơn giản vì cây con dễ bị tuyến trùng tấn công, có trường hợp tỷ lệ chết lên đến 50%.
“Chính vì thế, mục tiêu của dự án là cung cấp cho bà con những cây giống, hạt giống cà phê chất lượng cao để tái canh lại vườn cà phê hiệu quả. Chúng tôi cũng đã nghiên cứu thành công và cung cấp ra cho thị trường cho bà con những giống cà phê mới với năng suất lên đến 7 tấn/hecta, tăng gần gấp đôi năng suất trung bình hiện nay” – ông Báu cho biết.
Đi cùng với hoạt động hỗ trợ cây giống, trong khuôn khổ dự án NESCAFÉ Plan các dịch vụ hỗ trợ miễn phí cho nông dân cũng được triển khai, bao gồm tập huấn kỹ thuật và cung cấp kiến thức chuyên môn canh tác cà phê bền vững, tập huấn về thu hoạch và sau thu hoạch, tưới tiết kiệm, làm phân vi sinh từ vỏ cà phê…
Các chuyên gia của WASI, Trung Tâm Khuyến Nông tỉnh đã giới thiệu phương pháp tưới tiết kiệm nước, giúp nông dân tiết kiệm nước tưới từ 700 lít/cây xuống còn 400 lít/cây.
Theo kế hoạch từ nay đến cuối năm 2014, dự án NESCAFÉ Plan sẽ chuyển giao 7 triệu cây giống và tổ chức tập huấn cho 24.000 nông dân trồng cà phê tại những vùng trồng cà phê trọng điểm tại 5 tỉnh Tây Nguyên của Việt Nam.

Khẩn trương phê duyệt lộ trình tái canh cà phê

Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khẩn trương phê duyệt quy hoạch diện tích, lộ trình thực hiện tái canh cà phê.

>> Tái canh cây cà phê: những vấn đề cần quan tâm

Phó Thủ tướng giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các địa phương xem xét xử lý theo thẩm quyền những kiến nghị của Hiệp hội cà phê ca cao Việt Nam, hướng dẫn kịp thời các giải pháp tái canh cà phê bảo đảm tiến độ, hiệu quả.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, căn cứ kiến nghị của Hiệp hội cà phê ca cao Việt Nam, có giải pháp tháo gỡ khó khăn về vốn tín dụng, tiếp cận vốn vay của người dân để thực hiện tái canh cà phê.
Phó Thủ tướng giao UBDN các tỉnh khu vực Tây Nguyên căn cứ chắc năng, nhiệm vụ, tình hình cụ thể của từng địa phương, phối hợp với các Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ đạo thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn trong việc tái canh cà phê trên địa bàn.
Trong những năm qua, ngành cà phê Việt Nam đã có những bước phát triển rất nhanh về diện tích, năng suất và sản lượng. Tuy nhiên, thực tế phát triển cây cà phê ở Việt Nam đang đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết. Một trong những vấn đề là các vườn cà phê già cỗi, suy kiệt, sinh trưởng kém, năng suất thấp và không còn khả năng cưa đốn phục hồi hay ghép cải tạo đang đe dọa chính sự phát triển bền vững của cây cà phê.
Theo số liệu thống kê năm 2013, diện tích cà phê già cỗi ước khoảng 140.000-160.000 ha (Cục Trồng trọt, 2013), phần lớn vườn cây sinh trưởng phát triển kém, năng suất thấp hơn 1,5 tấn/ha và trên 20 năm tuổi cần tái canh để đảm bảo sản xuất và ổn định đời sống nông dân.

Xuất khẩu cà phê: Nâng “chất” nhờ chế biến?

Là một trong những quốc gia đứng “top” đầu về sản xuất, xuất khẩu cà phê nhưng có tới 95% sản phẩm XK của Việt Nam là cà phê nhân, tỉ lệ rất nhỏ còn lại là cà phê đã qua chế biến. Thực tế này dẫn tới lợi nhuận thu về chưa tương xứng với lượng hàng xuất đi.

>> Để tăng giá trị xuất khẩu cà phê Việt Nam

Xuất nhiều, lợi ít

Việt Nam là quốc gia đứng đầu thế giới về sản xuất và xuất khẩu cà phê vối (robusta) và đứng thứ hai thế giới về sản xuất và xuất khẩu cà phê nhân (chỉ sau Brazil). Có thể khẳng định, trong hơn một thập niên qua, sản xuất cà phê của Việt Nam đã đạt mức tăng trưởng cao cả về diện tích, năng suất cũng như sản lượng. Bằng chứng là năm 2012, sản lượng cà phê nhân của Việt Nam đã đạt 1,3 triệu tấn, gấp 14 lần so với năm 1990, kim ngạch XK cũng chạm mức 2,7 tỷ USD, gấp hơn 29 lần so với năm 1990.
xuat khau ca phe cua Viet Nam
Dự báo, kim ngạch XK cà phê đến năm 2020 đạt ổn định 3,5 tỷ USD/năm
Tuy nhiên, dễ dàng nhận thấy, ngành sản xuất, xuất khẩu cà phê Việt Nam đang tồn tại nghịch lý lớn là cho đến nay, Việt Nam chủ yếu là cà phê nhân với tỷ lệ lên tới 95% tổng sản lượng, trong khi xuất khẩu cà phê đã qua chế biến chỉ chiếm 5%. Đáng lưu ý là giá trị một đơn vị cà phê qua chế biến cao hơn cà phê nhân tới 3 lần.
Ông Nguyễn Trọng Thừa, Cục trưởng Cục Chế biến nông lâm thủy sản và nghề muối (Bộ NN&PTNT) cho biết, kết quả này một phần là bởi hiện nay ngành cà phê Việt Nam có hệ thống chế biến, bảo quản tăng mạnh về số lượng nhưng còn yếu kém, phát triển chưa cân đối. Tổng công suất thực tế chế biến cà phê nhân, cà phê bột và kho bảo quản đạt thấp so với công suất thiết kế gây lãng phí lớn vốn đầu tư. Thậm chí, trong năm 2011, 2012 đã có một số DN phải tạm dừng hoạt động và có nguy cơ phá sản.
“Điểm yếu lớn trong ngành cà phê còn là các khâu sản xuất, chế biến, bảo quản sản phẩm cà phê chưa gắn kết với nhau, liên kết giữa nhà nông và nhà DN còn lỏng lẻo. Các DN chế biến XK chủ yếu hoạt động thương mại thuần túy, ít gắn với sản xuất cà phê. Phần lớn sản lượng cà phê bột được chế biến ở các cơ sở nhỏ, chất lượng không cao nên khó mở rộng thị trường tiêu thụ”, ông Nguyễn Trọng Thừa nói.

Nâng “chất” cho cà phê xuất khẩu

Theo Tổ chức Cà phê Quốc tế (ICO), tiêu thụ cà phê toàn cầu đã tăng liên tục trong vòng 40 năm qua với tốc độ tăng bình quân 1,6%/năm. Tiêu thụ cà phê toàn cầu sẽ tiếp tục tăng và mức tăng cao hơn so với sản xuất nên giá cà phê sẽ được duy trì ở mức trên 2.000 USD/tấn.
Hiện nay, Bộ NN&PTNT đã giao cho Cục Chế biến nông lâm thủy sản và nghề muối xây dựng, hoàn thiện Dự thảo “Quy hoạch hệ thống chế biến, bảo quản cà phê gắn với sản xuất và XK đến năm 2020, định hướng 2030”. Trong dự thảo, các chuyên gia trong ngành đưa ra nhận định giai đoạn từ nay tới năm 2020, định hướng xuất khẩu cà phê nhân Việt Nam là tiếp tục duy trì và giữ ổn định thị trường cà phê Việt Nam đã XK đến 80 quốc gia, đặc biệt là 10 nước NK nhiều cà phê nhân là: Hoa Kỳ, Đức, Bỉ, Italia, Tây Ban Nha, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hà Lan, Anh và Trung Quốc. Tuy nhiên, vấn đề nổi cộm nhất trong xuất khẩu cà phê nhân chính là chất lượng phải được cải thiện và thực hiện đúng theo chương trình nâng cao chất lượng cà phê của ICO. Đồng thời, để XK đạt kết quả phải có DN đủ mạnh (nhóm 20 DN xuất khẩu cà phê – G20) được điều hành bởi đội ngũ các doanh nhân giàu kinh nghiệm và hiểu biết về hệ thống giao dịch cà phê trên thị trường thế giới.
Đối với cà phê tiêu dùng, tiềm năng XK sẽ mở ra đối với các DN Việt Nam nếu sản phẩm cà phê được chế biến bởi dây chuyền thiết bị công nghệ hiện đại, đạt tiêu chuẩn chất lượng cao và có chiến lược mở rộng thị trường khoa học mang tính khả thi cao.
Theo ông Nguyễn Trọng Thừa, trong dự thảo, Cục Chế biến nông lâm thủy sản và nghề muối cũng đã chỉ ra những giải pháp “căn cơ” để từng bước tăng giá trị xuất khẩu cà phê Việt Nam. Đó là sẽ xây dựng vùng sản xuất cà phê chất lượng cao và có chứng nhận làm nguyên liệu phục vụ cho chế biến. Cách tốt nhất là từng DN chế biến, bảo quản cà phê phải kết hợp với địa phương tìm vùng sản xuất cà phê nguyên liệu ổn định và lâu dài, từ đó đầu tư và ký hợp đồng thu mua sản phẩm. Sản phẩm cà phê nhân hoặc sau này chế biến thành cà phê tiêu dùng có thể dễ dàng truy nguyên nguồn gốc.
Bên cạnh đó, ngành cà phê cần tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường, đồng thời nhanh chóng cải thiện phương thức mua bán cà phê nhân qua sàn giao dịch với giá có lợi cho DN Việt Nam.
Ngoài ra, các chủ DN đã đầu tư các nhà máy chế biến cà phê nhân phải đánh giá lại dây chuyền thiết bị công nghệ, xây dựng phương án sản xuất kinh doanh trên cơ sở chuẩn bị được vốn thu mua cà phê nhân và hợp tác liên kết tiêu thụ cà phê nhân XK một cách hợp lý. Những nhà máy, kho bảo quản không hiệu quả thì xem xét chuyển đổi công năng hoặc thực hiện hợp đồng bảo quản cà phê cho các DN khác nhằm nâng cao hiệu suất sử dụng kho nhằm tránh lãng phí vốn đầu tư…
Theo Dự thảo “Quy hoạch hệ thống chế biến, bảo quản cà phê gắn với sản xuất và XK đến năm 2020, định hướng 2030”: Dự báo, kim ngạch xuất khẩu cà phê đến năm 2020 đạt ổn định 3,5 tỷ USD/năm, định hướng đến 2030 đạt 4 – 4,5 tỷ USD/năm. 100% sản phẩm cà phê qua chế biến đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn chất lượng quốc gia, quốc tế về đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Tỷ lệ cà phê nhân được chế biến ở quy mô công nghiệp đạt 40% vào năm 2015; đạt 70% đến năm 2020 và trên 80% đến năm 2030. Đến năm 2020, tỷ lệ cà phê tiêu dùng (cà phê chế biến sâu: cà phê rang xay, cà phê hoà tan) đạt 25% tổng sản lượng cà phê nhân.
Về việc phân bố các cơ sở chế biến bảo quản cà phê theo vùng kinh tế, dự kiến đến năm 2020 sẽ tập trung phát triển chế biến cà phê hòa tan ở các vùng chính gồm: Tây Nguyên, Đông Nam bộ và ĐBSCL, tổng công suất thiết kế đến năm 2020: 55.000 tấn sản phẩm/năm. Khuyến khích các DN sản xuất phối trộn cà phê 3 trong 1 vì vấn đề đầu tư dây chuyền thiết bị tương đối thấp, nhu cầu thị trường lớn.

Niên vụ 2013-2014 xuất khẩu cà phê sẽ đem về 3 tỷ USD


xuat khau ca phe viet nam

Ông Đỗ Hà Nam phó chủ tịch Vicofa dự báo xuất khẩu của Việt Nam sẽ đạt hơn 1,5 triệu tấn, kim ngạch 3 tỷ USD, tăng khoảng 20% so với năm 2013

Tính từ đầu niên vụ 2013-2014 (tháng 10-2013) đến nay, Việt Nam xuất khẩu được khoảng 700 tấn cà phê (chiếm 40% sản lượng dự báo), với giá xuất khẩu ở mức khá cao 2.000-2.200 USD/tấn. Dự báo quý II xuất khẩu cà phê tiếp tục thuận lợi và cả năm vẫn ở mức này.
Đây là năm thứ tư liên tiếp cà phê Việt Nam đạt đỉnh cao về sản lượng cũng như kim ngạch xuất khẩu trong hơn 30 năm qua.
Như vậy, trong 4 năm liên tiếp, ngành cà phê Việt Nam xuất khẩu hàng năm trên 1,2 triệu tấn cà phê nhân, đạt kim ngạch hàng năm trên 2,7 tỷ USD và giữ giá xuất khẩu ở mức 2.000 USD/tấn trở lên.

Khó khăn thách thức

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, ngành cà phê đang đứng trước một số khó khăn thách thức như: trong số 622.167 ha cà phê đang sản xuất của cả nước, hiện đang có khoảng 86 ha cà phê trên 20 năm tuổi (chiếm 15%); khoảng 140.000 ha từ 15 đến 20 năm tuổi (chiếm 25%).
Bên cạnh đó còn có các thách thức khác như chất lượng cà phê, xây dựng và phát triển thương hiệu để nâng cao giá trị cà phê, cạnh tranh trong chế biến và tiêu thụ cà phê hòa tan, rang xay…
Hơn thế, trong thời gian tới, khi một số thỏa thuận thương mại quốc tế bắt đầu có hiệu lực hoặc đàm phán xong như: Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP), hiệp định thương mại Việt Nam – EU…, thì mặt hàng cà phê Việt Nam sẽ đối mặt với nhiều thách thức hơn.
Ngoài ra, còn 3 nhược điểm của ngành cà phê là mô hình sản xuất với quá nhiều hộ nhỏ, kinh doanh với quá nhiều doanh nghiệp và xuất khẩu chủ yếu là cà phê nhân…

Nhiệm vụ và giải pháp thời gian tới

Trước những thách thức này, Vicofa đề ra một số nhiệm vụ trọng tâm nhiệm kỳ 2014-2017, cụ thể như sau:
Tiếp tục kiến nghị Chính phủ sớm phê duyệt đề án phát triển bền vững cho ngành cà phê Việt Nam. Trong đó, diện tích khai thác ổn định ở mức 570.000 ha, nâng cao năng suất để giữ sản lượng khoảng 1,3 đến 1,4 triệu tấn, xuất khẩu trên 1 triệu tấn/năm. Giữ thị phần xuất khẩu cà phê nhân khoảng 17%; đề xuất các phương án tổ chức lại ngành cà phê để khắc phục 3 nhược điểm: sản xuất quá nhiều hộ nhỏ, kinh doanh quá nhiều doanh nghiệp, xuất khẩu chủ yếu cà phê nhân.
Triển khai chương trình tái canh cây cà phê: Về chất lượng, tăng cường tuyên truyền và khuyến khích người trồng, hái cà phê chín trên 80%. Đồng thời hướng các doanh nghiệp đưa ra mức giá thu mua cao hơn đối với loại cà phê có tỷ lệ chín cao để hỗ trợ và thay đổi thói quen không phù hợp làm giảm giá trị cà phê. Hướng người trồng cà phê và doanh nghiệp tập trung vào quy trình đầu tư thâm canh vườn cà phê và kết hợp với trồng cây che bóng và sản xuất cà phê chất lượng cao thực hiện quy trình sản xuất theo chứng chỉ cà phê 4C, UTZ, R.A.
Đẩy mạnh đầu tư chế biến cà phê rang xay, hòa tan để xuất khẩu nhằm nâng cao giá trị gia tăng cho ngành cà phê. Về thương mại, tăng cường xúc tiến thương mại nhằm mở rộng thị trường nhằm vào các thị trường mới nổi như Trung Quốc, Nhật Bản, ASEAN và Đông Âu; đồng thời đẩy mạnh việc tiếp thị và mở rộng tiêu thụ trong nước nâng mức tiêu thụ lên 15% tổng sản lượng cà phê trong 5 năm tới.
Vicofa cũng kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sớm trình Chính phủ đưa chương trình tạm trữ cà phê trở thành chính sách thường xuyên của ngành. Đồng thời kiến nghị Bộ Tài chính thành lập Quỹ phát triển cà phê Việt Nam thay cho Quỹ bảo hiểm xuất khẩu cà phê.
http://giacaphe.com/41862/nien-vu-2013-2014-xuat-khau-ca-phe-se-dem-ve-3-ty-usd/

Đổi chất cho cà phê Tây Nguyên

Tây Nguyên là “thủ phủ” của cà phê Việt Nam và cà phê là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trong những năm qua.

Cà phê già hóa

Niên vụ 2013/2014, Việt Nam đã xuất khẩu 1,32 triệu tấn cà phê, kim ngạch 2,75 tỷ USD. Tuy nhiên, cây cà phê Tây nguyên đang đối mặt với những khó khăn do diện tích cà phê già cỗi khá lớn, đòi hỏi phải sớm tái canh để duy trì sản lượng và chất lượng. Trong khi đó, giá cà phê thường xuyên biến động ảnh hưởng thu nhập của người dân, chế biến sâu cà phê còn chiếm tỷ lệ nhỏ, chủ yếu là xuất khẩu thô nhân cà phê vì vậy giá trị gia tăng của cây cà phê mang lại chưa cao.
dien-tich-ca-phe-gia-coi-o-daklak
Một lượng lớn diện tích cà phê đã suy giảm hiệu quả.
Theo Bộ NN-PTNT, hiện nay, diện tích cà phê già cỗi cần phải trồng thay thế và chuyển đổi trong 5 – 10 năm tới khoảng 140 – 160 nghìn ha (chiếm trên 20% diện tích cà phê của toàn vùng).
Trong đó diện tích cà phê trên 20 năm tuổi hiện có trên 86 nghìn ha, chưa kể khoảng 40 nghìn ha cà phê dưới 20 tuổi nhưng đã có biểu hiện già cỗi cho năng suất và chất lượng thấp.
Nếu không kịp thời tái canh thì trong một vài năm tới sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất và chất lượng của cà phê Việt Nam. Tuy nhiên, tốc độ tái canh cây cà phê trong thời gian qua diễn ra rất chậm.
Từ năm 2012, Tây Nguyên cũng mới chỉ tái canh được khoảng 2000 ha. Riêng Đăk Nông diện tích vườn cà phê già cỗi đến nay đã gần 25.000 ha thì trong những năm qua mới tái canh được gần 300 ha.
Mới đây, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình cho biết, NH đã dành 12.000 tỷ đồng để phục vụ cho vay tái canh cây cà phê với lãi suất thấp hơn lãi suất thị trường, thời hạn cho vay phù hợp với một chu kỳ tái canh cà phê (khoảng từ 3-5 năm). Thậm chí cho vay thời hạn lên tới 5-7 năm.
Tuy nhiên, điều Thống đốc “trăn trở” là nguồn vốn đã sẵn sàng nhưng việc giải ngân còn phụ thuộc nhiều bộ, ngành địa phương.
Theo Thống đốc, NH không thể biết vùng nào cần quy hoạch, quy hoạch bằng giống gì, trồng xen canh cây gì để bảo đảm người trồng cà phê vẫn có thu nhập nhất định trong quá trình tái canh. Các bộ chuyên ngành và địa phương cần “chỉ ra” nơi để giải ngân.

Gỡ điểm nghẽn

Thực tế cho thấy để tái canh cây cà phê thì người dân phải chặt bỏ cây cà phê già cỗi và không được trồng lại ngay mà phải trồng các cây trồng khác ngắn hạn trong thời gian từ 1-2 năm. Giai đoạn từ khi trồng cho đến khi cây cà phê cho thu hoạch mất khoảng 2-3 năm, như vậy toàn bộ thời gian từ 3-5 năm người dân không có thu nhập. Trong khi vẫn phải đầu tư chi phí khá lớn để trồng lại khoảng trên 100 triệu VND/ha.
von-tai-canh-ca-phe
Vốn cho cà phê không thiếu.
Các hộ dân vay NH để tái canh cây cà phê đòi hỏi thời gian vay dài, chi phí trả lãi nhiều, trong khi không có thu nhập để bù đắp trong thời gian tái canh nên vẫn còn ngần ngại tái canh, thậm chí là tổ chức việc tái canh hết sức manh mún, thiếu khoa học và không hiệu quả. Vì vậy không cải thiện được tình hình mà còn gây nên tình trạng “xôi đỗ” trong mỗi vườn cà phê.
Vì vậy, Thống đốc nhấn mạnh, NH đã sẵn sàng nguồn tiền cho vay nhưng tái canh ở đâu, tái canh bằng giống gì, kỹ thuật như thế nào, trồng cây gì trong thời gian từ khi đốn đến khi trồng lại…thì NH không thể một mình hỗ trợ được người dân mà đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ.
Vì vây, cần sớm phê duyệt quy hoạch tái canh cây cà phê Tây nguyên, đưa ra được lộ trình tái canh từ nay đến năm 2020 của từng tỉnh. Điều này không những giúp cho NH bố trí nguồn vốn mà còn giúp cho người dân “vừa có diện tích tái canh, vừa có diện tích thu hoạch“ cà phê gối nhau để bảo đảm cuộc sống.
Phát triển cây cà phê bền vững, không chỉ đòi hỏi duy trì sản lượng và chất lượng cà phê tương xứng với vị trí quốc gia đứng thứ nhất, thứ nhì trên bản đồ cà phê thế giới mà điều quan trọng là phải tăng cường đầu tư chiều sâu để tạo ra các thương hiệu cà phê nổi tiếng được thị trường biết đến. Để làm được điều đó thì ngoài việc xúc tiến thương mại, giới thiệu sản phẩm cà phê Việt nam cho bạn bè quốc tế thì cần thiết phải tái cơ cấu lại ngành cà phê.
Liên kết giữa người trồng, chế biến trong chuỗi giá trị xuất khẩu cà phê và ứng dụng khoa học công nghệ ở các mức độ khác nhau trong sản xuất chế biến cà phê xuất khẩu để phát triển bền vững.
“Trong đó, ngân hàng đã sẵn sàng áp dụng các chính sách tín dụng phù hợp và đồng hành cùng với DN trong việc ưu tiên sản xuất chuỗi liên kết, áp dụng công nghệ cao, đẩy mạnh xuất khẩu đối với tái canh cây cà phê nói riêng và tái cơ cấu ngành nông nghiệp nói chung, nhằm bảo đảm phát triển nền nông nghiệp Việt Nam bền vững, năng suất, hiệu quả theo hướng hiện đại“. Thống đốc khẳng định.
http://giacaphe.com/41904/doi-chat-cho-ca-phe-tay-nguyen/

Niên vụ 2013-2014 xuất khẩu cà phê sẽ đem về 3 tỷ USD


xuat khau ca phe viet nam

Ông Đỗ Hà Nam phó chủ tịch Vicofa dự báo xuất khẩu của Việt Nam sẽ đạt hơn 1,5 triệu tấn, kim ngạch 3 tỷ USD, tăng khoảng 20% so với năm 2013

Tính từ đầu niên vụ 2013-2014 (tháng 10-2013) đến nay, Việt Nam xuất khẩu được khoảng 700 tấn cà phê (chiếm 40% sản lượng dự báo), với giá xuất khẩu ở mức khá cao 2.000-2.200 USD/tấn. Dự báo quý II xuất khẩu cà phê tiếp tục thuận lợi và cả năm vẫn ở mức này.
Đây là năm thứ tư liên tiếp cà phê Việt Nam đạt đỉnh cao về sản lượng cũng như kim ngạch xuất khẩu trong hơn 30 năm qua.
Như vậy, trong 4 năm liên tiếp, ngành cà phê Việt Nam xuất khẩu hàng năm trên 1,2 triệu tấn cà phê nhân, đạt kim ngạch hàng năm trên 2,7 tỷ USD và giữ giá xuất khẩu ở mức 2.000 USD/tấn trở lên.

Khó khăn thách thức

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, ngành cà phê đang đứng trước một số khó khăn thách thức như: trong số 622.167 ha cà phê đang sản xuất của cả nước, hiện đang có khoảng 86 ha cà phê trên 20 năm tuổi (chiếm 15%); khoảng 140.000 ha từ 15 đến 20 năm tuổi (chiếm 25%).
Bên cạnh đó còn có các thách thức khác như chất lượng cà phê, xây dựng và phát triển thương hiệu để nâng cao giá trị cà phê, cạnh tranh trong chế biến và tiêu thụ cà phê hòa tan, rang xay…
Hơn thế, trong thời gian tới, khi một số thỏa thuận thương mại quốc tế bắt đầu có hiệu lực hoặc đàm phán xong như: Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP), hiệp định thương mại Việt Nam – EU…, thì mặt hàng cà phê Việt Nam sẽ đối mặt với nhiều thách thức hơn.
Ngoài ra, còn 3 nhược điểm của ngành cà phê là mô hình sản xuất với quá nhiều hộ nhỏ, kinh doanh với quá nhiều doanh nghiệp và xuất khẩu chủ yếu là cà phê nhân…

Nhiệm vụ và giải pháp thời gian tới

Trước những thách thức này, Vicofa đề ra một số nhiệm vụ trọng tâm nhiệm kỳ 2014-2017, cụ thể như sau:
Tiếp tục kiến nghị Chính phủ sớm phê duyệt đề án phát triển bền vững cho ngành cà phê Việt Nam. Trong đó, diện tích khai thác ổn định ở mức 570.000 ha, nâng cao năng suất để giữ sản lượng khoảng 1,3 đến 1,4 triệu tấn, xuất khẩu trên 1 triệu tấn/năm. Giữ thị phần xuất khẩu cà phê nhân khoảng 17%; đề xuất các phương án tổ chức lại ngành cà phê để khắc phục 3 nhược điểm: sản xuất quá nhiều hộ nhỏ, kinh doanh quá nhiều doanh nghiệp, xuất khẩu chủ yếu cà phê nhân.
Triển khai chương trình tái canh cây cà phê: Về chất lượng, tăng cường tuyên truyền và khuyến khích người trồng, hái cà phê chín trên 80%. Đồng thời hướng các doanh nghiệp đưa ra mức giá thu mua cao hơn đối với loại cà phê có tỷ lệ chín cao để hỗ trợ và thay đổi thói quen không phù hợp làm giảm giá trị cà phê. Hướng người trồng cà phê và doanh nghiệp tập trung vào quy trình đầu tư thâm canh vườn cà phê và kết hợp với trồng cây che bóng và sản xuất cà phê chất lượng cao thực hiện quy trình sản xuất theo chứng chỉ cà phê 4C, UTZ, R.A.
Đẩy mạnh đầu tư chế biến cà phê rang xay, hòa tan để xuất khẩu nhằm nâng cao giá trị gia tăng cho ngành cà phê. Về thương mại, tăng cường xúc tiến thương mại nhằm mở rộng thị trường nhằm vào các thị trường mới nổi như Trung Quốc, Nhật Bản, ASEAN và Đông Âu; đồng thời đẩy mạnh việc tiếp thị và mở rộng tiêu thụ trong nước nâng mức tiêu thụ lên 15% tổng sản lượng cà phê trong 5 năm tới.
Vicofa cũng kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sớm trình Chính phủ đưa chương trình tạm trữ cà phê trở thành chính sách thường xuyên của ngành. Đồng thời kiến nghị Bộ Tài chính thành lập Quỹ phát triển cà phê Việt Nam thay cho Quỹ bảo hiểm xuất khẩu cà phê

Đổi chất cho cà phê Tây Nguyên

Tây Nguyên là “thủ phủ” của cà phê Việt Nam và cà phê là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trong những năm qua.

Cà phê già hóa

Niên vụ 2013/2014, Việt Nam đã xuất khẩu 1,32 triệu tấn cà phê, kim ngạch 2,75 tỷ USD. Tuy nhiên, cây cà phê Tây nguyên đang đối mặt với những khó khăn do diện tích cà phê già cỗi khá lớn, đòi hỏi phải sớm tái canh để duy trì sản lượng và chất lượng. Trong khi đó, giá cà phê thường xuyên biến động ảnh hưởng thu nhập của người dân, chế biến sâu cà phê còn chiếm tỷ lệ nhỏ, chủ yếu là xuất khẩu thô nhân cà phê vì vậy giá trị gia tăng của cây cà phê mang lại chưa cao.
dien-tich-ca-phe-gia-coi-o-daklak
Một lượng lớn diện tích cà phê đã suy giảm hiệu quả.
Theo Bộ NN-PTNT, hiện nay, diện tích cà phê già cỗi cần phải trồng thay thế và chuyển đổi trong 5 – 10 năm tới khoảng 140 – 160 nghìn ha (chiếm trên 20% diện tích cà phê của toàn vùng).
Trong đó diện tích cà phê trên 20 năm tuổi hiện có trên 86 nghìn ha, chưa kể khoảng 40 nghìn ha cà phê dưới 20 tuổi nhưng đã có biểu hiện già cỗi cho năng suất và chất lượng thấp.
Nếu không kịp thời tái canh thì trong một vài năm tới sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất và chất lượng của cà phê Việt Nam. Tuy nhiên, tốc độ tái canh cây cà phê trong thời gian qua diễn ra rất chậm.
Từ năm 2012, Tây Nguyên cũng mới chỉ tái canh được khoảng 2000 ha. Riêng Đăk Nông diện tích vườn cà phê già cỗi đến nay đã gần 25.000 ha thì trong những năm qua mới tái canh được gần 300 ha.
Mới đây, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình cho biết, NH đã dành 12.000 tỷ đồng để phục vụ cho vay tái canh cây cà phê với lãi suất thấp hơn lãi suất thị trường, thời hạn cho vay phù hợp với một chu kỳ tái canh cà phê (khoảng từ 3-5 năm). Thậm chí cho vay thời hạn lên tới 5-7 năm.
Tuy nhiên, điều Thống đốc “trăn trở” là nguồn vốn đã sẵn sàng nhưng việc giải ngân còn phụ thuộc nhiều bộ, ngành địa phương.
Theo Thống đốc, NH không thể biết vùng nào cần quy hoạch, quy hoạch bằng giống gì, trồng xen canh cây gì để bảo đảm người trồng cà phê vẫn có thu nhập nhất định trong quá trình tái canh. Các bộ chuyên ngành và địa phương cần “chỉ ra” nơi để giải ngân.

Gỡ điểm nghẽn

Thực tế cho thấy để tái canh cây cà phê thì người dân phải chặt bỏ cây cà phê già cỗi và không được trồng lại ngay mà phải trồng các cây trồng khác ngắn hạn trong thời gian từ 1-2 năm. Giai đoạn từ khi trồng cho đến khi cây cà phê cho thu hoạch mất khoảng 2-3 năm, như vậy toàn bộ thời gian từ 3-5 năm người dân không có thu nhập. Trong khi vẫn phải đầu tư chi phí khá lớn để trồng lại khoảng trên 100 triệu VND/ha.
von-tai-canh-ca-phe
Vốn cho cà phê không thiếu.
Các hộ dân vay NH để tái canh cây cà phê đòi hỏi thời gian vay dài, chi phí trả lãi nhiều, trong khi không có thu nhập để bù đắp trong thời gian tái canh nên vẫn còn ngần ngại tái canh, thậm chí là tổ chức việc tái canh hết sức manh mún, thiếu khoa học và không hiệu quả. Vì vậy không cải thiện được tình hình mà còn gây nên tình trạng “xôi đỗ” trong mỗi vườn cà phê.
Vì vậy, Thống đốc nhấn mạnh, NH đã sẵn sàng nguồn tiền cho vay nhưng tái canh ở đâu, tái canh bằng giống gì, kỹ thuật như thế nào, trồng cây gì trong thời gian từ khi đốn đến khi trồng lại…thì NH không thể một mình hỗ trợ được người dân mà đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ.
Vì vây, cần sớm phê duyệt quy hoạch tái canh cây cà phê Tây nguyên, đưa ra được lộ trình tái canh từ nay đến năm 2020 của từng tỉnh. Điều này không những giúp cho NH bố trí nguồn vốn mà còn giúp cho người dân “vừa có diện tích tái canh, vừa có diện tích thu hoạch“ cà phê gối nhau để bảo đảm cuộc sống.
Phát triển cây cà phê bền vững, không chỉ đòi hỏi duy trì sản lượng và chất lượng cà phê tương xứng với vị trí quốc gia đứng thứ nhất, thứ nhì trên bản đồ cà phê thế giới mà điều quan trọng là phải tăng cường đầu tư chiều sâu để tạo ra các thương hiệu cà phê nổi tiếng được thị trường biết đến. Để làm được điều đó thì ngoài việc xúc tiến thương mại, giới thiệu sản phẩm cà phê Việt nam cho bạn bè quốc tế thì cần thiết phải tái cơ cấu lại ngành cà phê.
Liên kết giữa người trồng, chế biến trong chuỗi giá trị xuất khẩu cà phê và ứng dụng khoa học công nghệ ở các mức độ khác nhau trong sản xuất chế biến cà phê xuất khẩu để phát triển bền vững.


“Trong đó, ngân hàng đã sẵn sàng áp dụng các chính sách tín dụng phù hợp và đồng hành cùng với DN trong việc ưu tiên sản xuất chuỗi liên kết, áp dụng công nghệ cao, đẩy mạnh xuất khẩu đối với tái canh cây cà phê nói riêng và tái cơ cấu ngành nông nghiệp nói chung, nhằm bảo đảm phát triển nền nông nghiệp Việt Nam bền vững, năng suất, hiệu quả theo hướng hiện đại“. Thống đốc khẳng định.